Skip to content

Nghi Thức Đại Bi Thập Chú

April 18, 2012
Image
  1. 1.     NGUYỆN HƯƠNG

Nam–mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. O

Đốt nét tâm hương trước Phật đài,

Ngũ phần dâng trọn đức Như Lai,

Cầu xin nhân loại lên bờ giác,

Hạnh phúc bình an khắp muôn loài. O

Đệ tử chúng con, một dạ chí thành, quỳ trước điện Phật, thiết lễ cầu an, trì chú Đại Bi, nguyện tiêu tai chướng, nguyện giáng kiết tường. Ngưỡng nguyện đức Bồ Tát Quán Thế Âm gia hộ cho kẻ mù được thấy, kẻ điếc được nghe, người đau khổ được an vui. O

Lại nguyện chúng sanh: não phiền dứt sạch, xa lìa khổ ách, nghiệp chướng tiêu trừ, bốn mùa khỏe mạnh, thân tâm an lạc, niềm tin vững chắc, phước thọ tăng long, mọi việc hanh thông, gia đình hưng thịnh, quyến thuộc khương ninh, pháp giới chúng sinh, cùng lên bờ giác. O

Nam-mô Hương Cúng Dường Bồ-tát ( 3 lần ) O

  1. 2.     ĐẢNH LỄ TAM BẢO

Phật là đấng giác ngộ mình,

Độ người thoát khỏi tử sinh bao đời,

Từ bi, trí tuệ rạng ngời,

Là thầy ba cõi trời người xưa nay. O

Chí tâm đảnh lễ tất cả Đức Phật ba đời thường trú trong mười phương. (1 lạy) O

Pháp là phương thuốc diệu thay,

Chữa lành bệnh khổ bao loài chúng sinh,

Như vầng trăng sáng lung linh,

Soi đường ra khỏi u minh mê mờ.

Chí tâm đảnh lễ tất cả Tôn Pháp ba đời thường trú trong mười phương. ( 1 lạy) O

Tăng là những bậc chân tu,

Biết đời huyễn mộng, giã từ ra đi,

Thấm nhuần trí tuệ, từ bi,

Độ đời thoát khỏi tham… si khổ sầu.

Chí tâm đảnh lễ tất cả Hiền Thánh Tăng ba đời thường trú trong mười phương. ( 1 lạy) O

  1. 3.     TÁN DƯƠNG GIÁO PHÁP

Pháp Phật cao siêu, lý rộng sâu,

Trăm ngàn muôn kiếp khó tìm cầu,

Nay con gặp được xin trì tụng,

Nguyện hiểu chơn kinh nghĩa nhiệm mầu.

Nam-mô Khai Pháp Tạng Bồ-tát

(3 lần) O

Nam-mô Đại Bi Hội Thượng Phật Bồ-tát

(3 lần) OOO

  1. 4.     TỊNH KHẨU NGHIỆP CHÂN NGÔN

Tu lị tu lị, ma ha tu lị, tu tu lị, ta bà ha.

(3 lần) O

  1. 5.     TỊNH THÂN NGHIỆP CHÂN NGÔN

Tu đa lị, tu đa lị, tu ma lị, tu ma lị, sa bà ha.

(3 lần) O

  1. 6.     CHÚ ĐẠI BI

Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại bi tâm đà-la-ni. O

Nam-mô hắc ra đát na, đa ra dạ da.

Nam-mô a rị da, bà lô yết đế, thước bát ra da, Bồ-đề tát đỏa bà da, ma ha tát đỏa bà da, ma ha ca lô ni ca da, án tát bàn ra phạt duệ số đát na đát tỏa.

Nam-mô tất kiết lật đỏa y mông a rị da, bà lô kiết đế thất Phật ra lăng đà bà.

Nam-mô na ra cẩn trì hê rị ma ha bàn đa sa mế, tát bà a tha đậu thâu bằng, a thệ dựng, tát bà tát đa, na ma bà già, ma phạt đạt đậu, đát điệt tha. Án a bà lô hê, lô ca đế, ca ra đế, di hê dị, ma ha bồ đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê, dị đà dựng, cu lô cu lô kiết mông, độ lô độ lô, phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế, đà ra đà ra, địa rị ni, thất Phật ra da, dá ra dá ra. Mạ mạ phạt ma ra, mục đế lệ, y hê y hê, thất na thất na a ra sâm Phật ra xá-lợi, phạt sa phạt sâm, Phật ra xá da, hô lô hô lô ma ra, hô lô hô lô hê rị, ta ra ta ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô, bồ-đề dạ bồ-đề dạ, bồ-đà dạ, bồ-đà dạ, di đế rị dạ, na ra cần trì địa rị sắc ni na, ba dạ ma na ta bà ha. Tất đà dạ ta bà ha. Ma ha tất đà dạ ta bà ha. Tất đà du nghệ thất bàn ra dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì ta bà ha. Ma ra na ra ta bà ha. Tất ra tăng a mục khê da, ta bà ha. Ta bà ma ha, a tất đà dạ, ta bà ha. Giả kiết ra a tất đà dạ, ta bà ha. Ba đà ma yết tất đà dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ, ta bà ha. Ma bà lị thắng yết ra dạ, ta bà ha.

Nam-mô hắc ra đát na, đa ra dạ da.

Nam-mô a rị da, bà lô yết đế, thước bàng ra dạ, ta bà ha.

Án tất điện đô, mạn đa ra, bạt đà dạ, ta bà ha. (3 lần) OOO

  1. 7.     THẬP CHÚ

7.1.          NHƯ Ý BẢO LUÂN VƯƠNG ĐÀ-LA-NI

Nam-mô Phật-đà-da.O

Nam-mô Đạt-ma-da. O

Nam-mô Tăng-dà-da. O

Nam-mô Quán Tự Tại Bồ-tát ma-ha-tát, cụ đại bi tâm giả. Đát điệt tha.

Án chước yết ra phạt để chấn đa mạc ni, ma ha bát đẳng mế, rô rô rô rô, để sắc tra thước ra a yết rị, sa dạ, hồng phấn ta ha.

Án, bát đạp ma chấn đa mạt ni, thước ra hồng.

Án bát lặc đà, bát đẳng mế hồng. O

7.2.          TIÊU TAI CÁT TƯỜNG THẦN CHÚ

 

Nẳng mồ tam mãn đa, mẫu đà nẩm. Á bát ra để, hạ đa xá ta nẳng nẩm. Đát điệt tha. Án, khê khê, khê hế, khê hế, hồng hồng, nhập phạ ra, nhập phạ ra, bát ra nhập phạ ra, bát ra nhập phạ ra, để sắc sá, để sắc sá, sắc trí rị, sắc trí rị, ta phấn tra, ta phấn tra, phiến để ca thất rị duệ, ta phạ ha. O

7.3.          CÔNG ĐỨC BẢO SƠN THẦN CHÚ

 

Nam-mô Phật-đà-da. O

Nam-mô Đạt-ma-da. O

Nam-mô Tăng-dà-da. O

Án, tất đế hộ rô rô, tất đô rô, chỉ rị ba, kiết rị bà tất đạt rị, bố rô rị, ta phạ ha. O

7.4.          PHẬT MẪU CHUẨN-ĐỀ THẦN CHÚ

 

Khế thủ quy y Tô-tất-đế,

Đầu diện đảnh lễ thất cu chi.

Ngã kim xưng tán Đại Chuẩn đề,

Duy nguyện từ bi thùy gia hộ.

Nam-mô tát đa nẩm tam-miệu tam-bồ-đề, cu chi nẩm, đát điệt tha.

Án, chiết lệ chủ lệ Chuẩn đề, ta bà ha. O

7.5.          THÁNH VÔ LƯỢNG QUYẾT ĐỊNH QUANG MINH VƯƠNG ĐÀ-LA-NI

 

Án, nại ma ba cát ngỏa đế, a ba ra mật đạp, a ưu rị a nạp, tô tất nể, thiệt chấp đạp, điệp tả ra tể dã, đát tháp cả đạt dã, a ra ha đế, tam dược tam bất đạt dã, đát nể dã tháp.

Án, tát rị ba, tang tư cát rị, bót rị thuật đạp, đạt ra mã đế, cả cả nại, tang mã ngột cả đế, ta ba ngỏa, tỷ thuật đế, mã hắt nại dã, bát rị ngỏa rị tá hắt. O

7.6.          DƯỢC SƯ QUÁN ĐẢNH CHƠN NGÔN

 

Nam-mô bạt dà phạ đế, bệ sát xả, lụ rô thích lưu ly, bát lặt bà, hắt ra xà dã, đát tha yết đa da, a ra hắt đế, tam miệu tam bột đà da, Đát điệt tha. Án, bệ sát thệ, bệ sát thệ, bệ sát xã, tam một yết đế tá ha. O

7.7.          QUÁN ÂM LINH CẢM CHƠN NGÔN

 

Án, ma ni bác di hồng, ma hắt nghê nha nạp, tích đô đặt ba đạt, tích đặt ta nạp, vi đạt rị cát, tất nhi cáng nhi tháp, bốc rị tất tháp cát nạp, bổ ra nạp, nạp bốc rị, thưu thất ban nạp, nại ma lô kiết, thuyết ra da, tá ha. O

7.8.          THẤT PHẬT DIỆT TỘI CHƠN NGÔN

 

Ly bà ly bà đế, cầu ha cầu ha đế, đà ra ni đế, ni ha ra đế, tỳ lê nể đế, ma ha dà đế, chơn lăng càng đế, ta bà ha. O

7.9.          VÃNG SANH TỊNH ĐỘ THẦN CHÚ

 

Nam-mô a di đà bà dạ, Đa tha dà đa dạ, Đa địa dạ tha.

A di rị đô bà tỳ,

A di rị đa tất đam bà tỳ,

A di rị đa tì ca lan đế,

A di rị đa, tì ca lan đa,

Dà di nị dà dà na,

Chỉ đa ca lệ ta bà ha. O

7.10.       THIÊN THIÊN NỮ CHÚ

 

Nam-mô Phật-đà. O

Nam-mô Đạt-mạ. O

Nam-mô Tăng-dà. O

Nam-mô thất lỵ, ma ha để tỷ da, đát nể dã tha, ba lỵ phú lầu na giá lỵ, tam mạn đà, đạt xá ni, ma ha tỳ ha ra dà đế, tam mạn đà, tỳ ni dà đế, ma ha ca rị dã, ba nể ba a, ba nể tát rị phạ lặt tha, tam mạn đà, tu bác lê đế, phú lệ na, a rị na, đạt mạ đế, ma ha tỳ cổ tất đế, ma ha Di-Lặc đế, lâu phã tăng kỳ đế, hê đế tỷ, tăng kỳ hê đế, tam mạn đà, a tha a nậu, đà-la-ni. O

  1. 8.     KINH TINH HOA TRÍ TUỆ

Quán Tự Tại thực hành trí tuệ,

Bát-nhã ba-la-mật sáng ngời,

Bấy giờ Bồ-tát quán soi,

Thấy rằng năm uẩn ba đời đều không. O

Vượt tất cả các vòng khổ ách,

Hãy nghe này, Xá-lợi-phất ông !

Sắc nào có khác gì không,

Không nào khác sắc, sắc không vốn đồng. O

Cả thọ, tưởng, thức, hành cũng thế.

Tánh chân không các pháp viên thành,

Thảy đều chẳng diệt, chẳng sanh,

Chẳng nhơ, chẳng sạch, chẳng tăng, giảm gì. O

Trong chân không chẳng hề có sắc.

Chẳng thọ, tưởng, hành, thức trong không.

Mắt, tai, mũi, lưỡi, ý, thân,

Sắc, thanh, vị, xúc, pháp, hương không còn. O

Không nhãn thức đến không ý thức,

Không vô minh hoặc hết-vô-minh,

Không điều già chết chúng sanh,

Hết già, hết chết thực tình cũng không.

Không trí huệ cũng không chứng đắc,

Bởi có gì là chỗ đắc đâu.

Bấy lâu Bồ-tát dựa vào

Trí ba-la-mật thẳm sâu thực hành,

Mọi chướng ngại quanh mình tan biến,

Mọi việc đều chẳng khiến hoảng kinh,

Xa lìa mộng tưởng đảo điên,

Niết-bàn rốt ráo an nhiên thanh nhàn.

Bát-nhã ấy rõ ràng trí tuệ,

Mà bà đời chư Phật nương vào,

Chứng thành quả giác tối cao,

Nên xem Bát-nhã thâm sâu đó là: O

Lời thần chú sâu xa bậc nhứt,

Lời chú thần rất mực quanh minh,

Chú thần cao cả anh linh,

Là lời thần chú thật tình cao siêu.

Trừ dứt được mọi điều đau khổ,

Đúng như vầy muôn thủa không sai.

Ngài liền tuyên nói chú này,

Để người trì niệm sáng bày chơn tâm: O

Ga-tê ga-tê pa-ra-ga-tê pa-ra-săn-ga-tê bô-dhi sva-ha (3 lần) OOO

  1. 9.     NIỆM BỒ-TÁT

 

Trí tuệ bừng lên đóa biện tài,

Đứng yên trên sóng sạch trần ai,

Cam lồ chữa lành cơn khổ bệnh,

Hào quang quét sạch buổi nguy tai.

Liễu biếc phất bày muôn thế giới,

Sen hồng hở né vạn lâu đài

Cúi đầu ca ngợi dâng hương thỉnh,

Xin nguyện từ bi ứng hiện ngay. O

Nam-mô Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Linh Cảm Ứng Quán Thế Âm Bồ-tát. O

Nam-mô Quán Thế Âm Bồ-tát (18 lần) O

Nam-mô Đại Trí Văn-thù-sư-lợi Bồ-tát (3 lần) O

Nam-mô Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ-tát (3 lần) O

Nam-mô Đại Thế Chí Bồ-tát (3 lần) O

Nam-mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ-tát (3 lần) O

Nam-mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ-tát. (3 lần) OOO

  1. 10.  NĂM ĐIỀU QUÁN TƯỞNG

 

Thế Tôn lời dạy tỏ tường

Năm điều quán tưởng phải thường xét ra:

Ta đây phải có sự già,

Thế nào tránh khỏi lúc qua canh tàn. O

Ta đây bệnh tật phải mang,

Thế nào tránh khỏi đặng an, mạnh lành. O

Ta đây sự chết sẵn dành,

Thế nào tránh khỏi tử sanh đến kỳ. O

Ta đây phải chịu phân ly,

Nhơn vật quí mến ta đi biệt mà.

Ta đi với nghiệp của ta,

Dù cho tốt xấu tạo ra tự mình,

Theo ta như bóng theo hình,

Ta thọ quả báo phân minh kiết tường. O

  1. 11.  HỒI HƯỚNG CÔNG ĐỨC

 

Tụng kinh là hạnh tốt lành,

Vô biên phước đức sẵn dành chúng sanh.

Nguyện cho tất cả hàm linh,

Thảy đều tỏ ngộ phẩm kinh diệu huyền. O

Nguyện tiêu ba chướng não phiền,

Được nguồn trí tuệ, phá xiềng vô minh.

Nguyện trừ tội chướng điêu linh,

Hạnh lành Bồ-tát thường tinh tấn làm. O

Nguyện sanh cõi tịnh siêu phàm,

Hoa sen chín phẩm là hàng mẹ cha.

Hoa nở thấy Phật hiện ra,

Vô sanh chứng ngộ, bạn ta: Thánh hiền. O

Nguyện đem công đức hiện tiền,

Hướng về khắp cả các miền gần xa.

Con và cha mẹ, ông bà,

Chúng sanh giác ngộ, chan hòa pháp thân.

(3 xá) OOO

  1. 12.  PHỤC NGUYỆN

 

Đức Quan Âm cứu khổ,

Với hạnh nguyện ban vui.

Băm hai thân độ đời,

Bằng tình thương cao cả.

Tự tại từng ý niệm,

Viên thông giữa các căn.

Tuệ giác khế lý ứng cơ,

Quán chiếu cứu sanh tiếp vật. O

Độ tai qua nạn khỏi,

Giúp tật bệnh tiêu trừ.

Phước lộc thọ đủ đầy,

Giới định tuệ viên mãn.

Bốn loài lên đất Tịnh,

Ba cõi thác tòa Sen.

Ngạ quỹ chứng Tam Hiền,

Hữu tình lên Thập Địa.

Pháp môn xin nguyện học,

Ân nghĩa xin nguyện đền,

Phiền não xin nguyện đoạn,

Quả Phật xin nguyện thành. O

Nam-mô Thường Trụ Tam Bảo. (3 xá) OOO

  1. 13.  ĐẢNH LỄ BA NGÔI BÁU

 

Con xin nương tự Phật,

Bậc Phước Trí Viên Thành,

Cầu tất cả chúng sanh

Giác Ngộ, phát tâm lành. (1 lạy) O

Con xin nượng tựa Pháp,

Nguồn tuệ giác, từ bi,

Cầu tất cả chúng sanh

Hiểu đạo, tỏ nguồn tâm. (1 lạy) O

Con xin nương tựa Tăng,

Đoàn thể sống an vui,

Cầu tất cả chúng sanh

Hòa hợp, thương mến nhau. (1 lạy) O

SỰ LINH ỨNG CỦA CHÚ ĐẠI BI

Chú Đại Bi nầy ở trong kinh “Thiên thủ thiên nhãn Quán Thế Âm Bồ tát quảng đại viên mãn vô ngại Đại Bi tâm đà la ni”.

Hồi đời quá khứ vô lượng ức kiếp, có Đức Phật Thiên Quang Vương Tịnh Trụ ra đời vì ngài Quán Thế Âm mà nói ra chú Đại Bi này. Lúc đó ngài mới trụ bực sơ địa, mà sau khi nghe chú này rồi, thì siêu chứng lên bậc Bát địa liền, Ngài thấy cái hiệu nghiệm như vậy, thì phát lời đại nguyện rằng: “Nếu qua đời vị lại có thể đem chú này ra mà làm lợi ích cho chúng sanh, thì cho thân Ngài sanh ra ngàn cánh tay và ngàn con mắt v.v.. Ngài nguyện vừa rồi thì quả nhiên tay mắt đều cụ túc tất cả, vả lại chư Phật phóng quang soi đến thân Ngài và soi khắp vô biên thế giới.

Khi ấy Ngài lại phát nguyện rằng: nếu người nào trì tụng Chú này mỗi đêm 5 biến, thì đặng tiêu hết những tội nặng sanh tử trong năm vạn ức kiếp, đến lúc mạng chung thì có thập phương Chư Phật hiện thân tiếp dẫn về cõi tịnh độ. Bằng chứng như người nào trì tụng chú này mà sau còn đọa vào ba đường ác đạo và chẳng đặng sanh về cõi Phật, hay chẳng đặng những pháp tam muội biện tài, và chỗ sở cầu không toại chú, nếu có mấy sự ấy, thì chú này không được xưng là “ Đại Bi Tâm đà la ni”.

Chỉ trừ những người tâm không thiện, chí không thành và lòng hay nghi, thì không thấy hiệu nghiệm liền mà thôi.

***

Chú này ví tụng 12.000 lượt hay in cúng 1.200 quyển thời nhất nhất cầu việc gì đều có hiệu nghiệm cả.

Cầu con có con, cầu bệnh khỏi bệnh. Cầu tài có tài, cầu phúc được phúc, cầu tai qua nạn khỏi được tai qua nạn khỏi v.v..

1-     Người họ Trần làm dâu của họ Ngô, mình đau yếu rồi lại không có con, rồi trì tụng chú này, cùng in kinh 1.200 quyển được khỏi bịnh và sanh được một con làm Quan tới Hộ bộ Thị Lang.

2-     Lý Thữ Lâm ở Mãn Châu khi đi về, thuyền đến chỗ giữa dòng nước chảy gió to nguy hiểm, suýt đắm thuyền, hứa xin in cúng 1.200 quyển chú này, khấn xong gió thuận thuyền yên, qua cơn hiểm nghèo.

3-     Người Vương Thiện ở kinh đô đi thi bao phen chẳng đỗ mà nợ bút nghuên chưa hề trả được chợt mộng thấy Bạch Y Đại Sĩ bảo rằng: “Nhà nguời không có số đỗ, nay muốn đỗ, thì người nên chăm trì tụng Bạch Y mới mong khá được”.

Người ấy tỉnh dậy liền in 1.200 quyển kinh để cúng, quả đến kỳ thi sau chiếm được bảng vàng.

4-     Chu Kế Khanh làm quan giám sát tỉnh Sơn Đông mắc tội ngục hình, đêm nằm mộng thấy vị Đại Sĩ bảo niệm chú này thì thoát được ách, người ấy niệm 1.200 lượt chú, quả sau khỏi vòng tù tội, cả nhà đều được tha về.

5-     Phủ Hoài An, Huyện Sơn Dương có Trần Quốc Khanh anh em được ba người, nhưng chỉ có Quốc Khanh lòng tín niệm chú Bạch Y, chợt gặp cơn lai biến lúc cháy nhà, Khanh trông thấy được Bạch Y Đại Sĩ đến cứu thoát, còn hai em thấy quỷ thần thiêu đốt trong đám tro tàn.

6-     Người tín nữ họ Lý, người ở huyện Đại Hưng, cha bị bệnh rất nguy; niệm Bạch Y chú đủ 12.000 biến, và hứa in cúng 1.200 quyển kinh, thì tự nhiên khỏi bệnh.

7-     Người hành cơm ở cửa Đông kinh đô, là Lưu Thế Long, cùng vợ là họ Tôn, nhân không con; niệm chú Bạch Y 12.000 lần, thời sinh được một con trai. Rồi lại in cúng 1.200 quyển kinh.

8-     Hứa Nguyên Cát nguời ở Huy Châu nhà rất nghèo kiếm chẳng đủ ăn, bực mình đâm đầu xuống sông để kết liễu cuộc đời, chợt thấy một ông già vớt lên và bảo niệm chú Bạch Y thì trời giúp cho và đưa một quyển thần chú rồi biến đi. Cát nghe lời về nhà trì tụng đủ số thời thấy làm ăn, ngày một phát, sinh sôi nảy nở giàu to.

9-     Đất Tích Giang năm Càn Long Mậu Ngọ có người nàng dâu là Quận thị thấy bố chồng phải bệnh đau ruột và ho ra máu nguy cấp phát nguyện niệm chú 12.000 lần, in kinh 1.200 quyển đủ số, rồi bệnh tự nhiên khỏi. Sách Thiên tự có chép.

10-  Có người đàn bà họ Vương năm 20 tuổi bị bệnh nguy kịch người ấy niệm chú Bạch Y, chợt nằm mộng thấy đức Bạch Y Đại Sĩ bảo rằng: ”Nhà nguời thành tâm niệm chú nhưng tụng còn thiếu 19 chữ, cho nên chưa được báo ứng”. Người đàn bà thưa không biết thiếu chữ gì. Đại Sĩ bảo cho 19 chữ là “ THIÊN LA THẦN ĐẰNG”, người đàn bà vâng lời tụng nốt. Bèn sau quả nhiên khỏi bệnh, và sống được 93 tuổi.

11-  Niên hiệu Đạo Quang thứ 17, có người học trò đi học nửa đường lâm bệnh nặng; nhân nhớ đến chú linh nghiệm bèn niệm chú Bạch Y và hứa in kinh cúng, đến sáng mai quả được bình phục như thường.

12-  Niên hiệu Quang Tự năm Tân Tỵ, Trương Văn Khanh làm Học chính đất Tích Giang, một hôm trở về gặp lúc sóng to, nước dữ, mười phần chắc chết, Khanh cứ nghiễm nhiêm niệm chú này liền qua cơn tai nạn, linh nghiệm đến thế.

13-  Tôi ngày còn nhỏ đi học, hay bị đau mắt, thuốc đâu chẳng khỏi, nhân biết truyện linh nghiệm mới theo niệm chú Bạch Y.

Đến đêm thứ năm, mộng thấy con chim trắng mổ vào mắt một cái đau lắm; tỉnh dậy cả sợ và ngày hôm sau nói chuyện lại cới anh em, có nguời bảo đấy là chim Anh Vũ trắng của Đạo Sĩ, nguời cho xuống chữa bệnh, chắc từ nay anh không bị bệnh đau mắt nữa. Tôi bèn in 1.200 quyển kinh để cúng và lúc nào cũng niệm chú ấy, năm tôi 40 tuổi cũng chưa có con lại chăm tụng niệm hơn. Mấy năm sau tôi sinh hạ được hai trai một gái, đứa nào cũng thông minh mẫn tiệp. Cách sinh nhai của chúng thảy đều dễ dàng. Đến năm Nhâm Tý tôi thôi học đi buôn vì lẽ nơi ăn chốn ở chẳng được tinh khiết nên không dám trì tụng nữa chỉ riêng trai giới giữ như thường.

14-  Người họ Trịnh tên Thị Cung bị đau mắt không khỏi. Sau tụng và in kinh này cúng quả nhiên khỏi bệnh

1-     SỰ LINH ỨNG CỦA CHÚ “NHƯ Ý BẢO LUÂN VƯƠNG ĐÀ LA NI”

Chú này trích trong kinh “Như ý tâm đà là ni”. Vì Ngài Quán Tự Tại Bồ-tát muốn cho chúng sanh tùy ý sở cầu cái gì cũng được như nguyện, nên Ngài bạch với Phật xin để Ngài thuyết chú này. Những người trì tụng mà rõ được nghĩa thâm mật của Chú này, thì cái thắng lợi ấy cũng thí như cái cây như ý, tùy nguyện muốn cầu việc gì cũng được.

Lúc Bồ-tát thuyết chú này rồi, sáu chưởng chấn động, cung điện của Ma Vương đều nổi lửa cháy, sợ hãi khôn cùng, các loài độc ác chúng sanh đều lăn nhào té ngã, còn những kể thọ khổ trong đường địa ngục và ngạ quỷ thì đều đặng sanh về cõi Trời.

2-     SỰ LINH ỨNG CỦA CHÚ “TIÊU TAI CÁT TƯỜNG THẦN CHÚ”

Chú này trích trong Kinh “Tiêu Tai Cát Tường”. Kinh ấy nói:”Khi Phật ở tại rừng trời Tịnh Cư Thiên nói với thiên chúng cùng 28 ngôi sao và 12 cung thần rằng:”Có chú Xí thanh quang đại oan ức đà la ni” của Ngài Ta La Vương đã nói hồi trước. Ta nay thuyết ra đây, là pháp để trừ tai nạn”.

Nếu trong đế đô quốc giới mà có các sao yêu tinh chiếu đến mà làm các điều chướng nạn, hay là các vì sao thuộc về cang bổn mạng của nhơn loại mà có sự gì bất tường thì phải lập ra đạo tràng, rồi y pháp khắc kỳ mà niệm chú này 108 biến, thì tai chướng tức thời trừ diệt đặng hết”.

3-     SỰ LINH ỨNG CỦA CHÚ “CÔNG ĐỨC BẢO SƠN THẦN CHÚ”

Tập “Viên nhơn vãng sanh” có dẫn trong kinh Đại Tập nói rằng:”Nếu người tụng chú này một biến, thì công đức cũng như lễ Kinh Phật Danh bốn vạn năm ngàn bốn trăm biến (45.400) còn như phạm tội nặng đang đọa vào ngục A tỳ, mà nhứt tâm trì tụng chú này, thì trong lúc mạng chung chắc đặng sanh về bực thượng sanh bên cõi Tịnh Độ mà đặng thấy Phật A Di Đà”.

Câu nói trên đây, đã được tra ở các bộ Đại tập trong Đại tạng mà chưa thấy, hoặc giả có kinh Đại tập nào khác nữa mà chưa nhập tạng chăng.

4-     SỰ LINH ỨNG CỦA CHÚ “PHẬT MẪU CHUẨN ĐỀ THẦN CHÚ”

Chú này trích trong Kinh Chuẩn Đề. Ở trước có 4 câu kệ của Ngài Long Thọ Bồ Tát.

“Khế thủ quy y Tô tất đế, Đầu diện đảnh lễ thất cu chi (đê), Ngã kim xưng tán Đại Chuẩn Đề, Duy nguyện từ bi thùy gia hộ. Nghĩa là:”Cúi đầu quy kỉnh pháp viên thành, đảnh lễ đủ bảy trăm ức Phật tôi nay xưng tán Đức Chuẩn Đề, nhờ lượng từ bi thường ủng hộ.

Bài tụng trên đây: Câu đầu nói là quy y về Pháp bảo; câu thứ hai nói về Phật bảo; câu thứ ba nói về quy y Tăng bảo; câu thứ tư nói mình xin nhờ ơn Tam bảo gia hộ.

            Chữ TÔ TẤT ĐẾ  nguyên tiếng Phạn “Susidhi”. Hán dịch là Diệu thành tựu nghĩa là một pháp có năng lực thành tựu được hết thảy sự lý và thành tựu đặng hết thảy tâm nguyện của chúng sanh rất màu nhiệm.

            Chữ “CU ĐÊ” hay là “CU CHI” nguyên tiếng Phạn “Koti”, Hán dịch là bách ức, nghĩa là trăm ức, cho nên trên đây nói “thất cu đê” tức là số bảy trăm ức vậy.

            Chữ “CHUẨN ĐỀ” nguyên là tiếng Phạn “Candi”. Hán dịch có hai nghĩa: 1. Thi vi và 2. Thành tựu.

           Thi vi là Lời thề rộng trụ lý cà cái trí lớn đoạn hoặc, đủ các cái nhơn hạnh thi vi.

            Thành tựu nghĩa là tùng nơi không mà hiện ra giả rồi thành tựu đặng pháp tịnh diệt.

            Sở dĩ chú này xưng rằng “Phật mẫu Chuẩn Đề” là nói pháo là thầy và thiệt trí là mẹ của chư Phật, cho nên bảy trăm ức Phật đều dùng Pháp “Chuẩn Đề Tam Muội” mà chứng đạo Bồ Đề.

            Trong kinh Chuẩn Đề nói rằng:”Khi Phật ở vườn Kì Đà vì có tứ chúng bát bộ vi nhiễu đông đủ, Ngài nghĩ thương những người chúng sanh trong đời mạt pháp này, tội dày phước mỏng, nên mới nhập “Chuẩn Đề định” mà thuyết chú như vầy:”Nam mô tát đa nẩm, tam miệu tam bồ đề, cu đê nẩm, đát điệt tha. Án, chiết lệ chủ lệ Chuẩn Đề, ta bà ha”.

            Phật nói:”nếu trì chú này mãn chín mươi vạn (900.000) biến thì diệt trừ được các tội thập ác, ngũ nghịch và tứ trọng; cho đến nhà thế tục chẳng luận gì tịnh uế hễ chí tâm trì tụng, tức tăng đặng phước thọ, tiêu đặng tai bịnh, Khi tụng mãn 49 ngày, thì ngài Chuẩn Đề Bồ-tát khiến hai vị thánh thường theo người ấy mà ủng hộ.

            Nếu người có hoặc mở cầu trí huệ, hoặc cầu chống tai nạn, hoặc cầu pháp thần thông, hoặc cầu đạo Chánh giác, thì chi y pháp lập đàn, tụng đủ một trăm vạn (1.000.000) biến thì đặng đi khắp mười phương Tịnh Độ, thờ cả chư Phật, nghe cả diệu Pháp mà chứng quả Bồ Đề”.

5-     SỰ LINH ỨNG CỦA CHÚ “THÁNH VÔ LƯỢNG THỌ QUYẾT ĐỊNH QUANG MINH VƯƠNG ĐÀ LA NI”

            Chú này trích trong kinh “Đại Thừa Thánh Vô Lượng Thọ Quyết Định Quang Minh Vương Như Lai Đà-la-ni”

            Kinh ấy nói:”Đức Thích Ca Thế Tôn nghĩ thương chúng sanh đoản thọ trong đời vị lai, muốn cho thêm được thọ số, hưởng được hạnh phúc, nên Phật nói với Đại trí huệ Cát Tường Bồ-tát rằng: Những nhơn loại ở trong cõi diêm phù đề này thọ mạng chỉ đặng trăm tuổi, mà ở trong số đó có phần đông người tạo lắm ác nghiệp rồi bị trung yểu là khác. Nếu cả nhơn loại thấy đặng chú này, hoặc biên chép, hoặc ấn tống, hoặc thọ trì đọc tụng, thì lại tăng thọ mạng đủ số trăm tuổi, mà qua đời vị lai đặng mau chứng quả Bồ đề.

6-     SỰ LINH ỨNG CỦA CHÚ “DƯỢC SƯ QUÁN ĐẢNH CHƠN NGÔN”

Trong kinh nói trên, Đức Thích Ca Như Lai nói nếu có chứng bịnh gì mà cứ nhứt tâm trì chú này trong nước tịnh thủy đủ 108 biến rồi uống, thì các chứng bịnh đều lành liền.

Còn như những người trọn đời thọ trì chú này, thì đặng khỏi bịnh và sống lâu, đến lúc mạng chung lại được sanh về cõi “Tịnh lưu ly thế giới”. Nhưng phải biết rằng: Chú này được gọi là “Quán đảnh” là nói chú do nơi đảnh quang của Phật mà thuyết ra. Nếu người nào thọ trì đọc tụng chú này mà đặng ba nghiệp (thân, khẩu, ý) thanh tịnh, thì Phật quang chiếu ngay đến nơi đảnh ngôn của người trì tụng của người ấy một cách mát mẻ như rưới nước cam lồ vậy.

Cho nên cái sáng của Phật khác hơn cái sáng của ma, vì cái sáng của ma thì lòa chói làm cho ta sợ hãi, còn cái sáng của Phật thì mát mẻ và làm cho ta vui mừng. Vậy ai là người thọ trì kinh chú hay là niệm Phật cần phải rõ mà phân biệt hai cái sáng ấy. Chớ đừng thấy ma quang lập lòe trước mắt như ngoại đạo nhìn đèn, nhìn nhang kia mà nhận lầm là thấy tánh.

7-     SỰ LINH ỨNG CỦA CHÚ “QUÁN ÂM LINH CẢM CHƠN NGÔN”

Chú này không rõ do đâu mà đánh ra. Nhưng cái lòng bi nguyện độ sanh của đức Quán Âm đối với chúng sanh rất mật thiết, cho nên những người trì tụng chú này thì chắc được Ngài ủng hộ.

8-     SỰ LINH ỨNG CỦA CHÚ “THẤT PHẬT DIỆT TỘI CHƠN NGÔN”

Chú này trích trong kinh “Đai Phương Đẳng Đà-la-ni”.

Kinh ấy nói:”Ngài Văn Thù Sư Lại Bồ-tát nghĩ thương về sau những đời mạt pháp các chúng tùy kheo có phạm tội “Tứ trọng” và các tùy kheo ni có phạm tội “Bát trọng” thì làm sao mà sám hối đặng, nên mới cầu Phật chỉ rõ phương pháp. Lúc ấy Đức Thích Ca Như Lai mới thuyết ra chú này: Vì chú này là chú của bảy Phật đời trước thường nói, rất có oai lực làm diệt hết các tội Tứ trọng, ngũ nghịch, mà đặng phước vô lượng.

Tội tứ trọng ngũ nghịch là tội rất nặng, nếu không phải cái sám vô sanh, tưởng không thể gì tiêu diệt cho đặng. Nhưng vì chú này là bảy Phật đời trước xứng tánh thuyết ra, cho nên những người trì tụng thị niệm niệm cũng xưng tánh mà đặng vô lý sanh. Cách diệt tội ấy, thí như nước sôi mà đổ vào tuyết, thì tuyết tan liền, thì lý như vậy.

9-     SỰ LINH ỨNG CỦA CHÚ “VÃNG SANH TỊNH ĐỘ THẦN CHÚ”

Chú này nguyên ở trong kinh “Bạt nhứt thiết nghiệp chướng căn bổn đắc sanh tịnh độ đà-la-ni” mà trích ra.

Chú này có hai cách đọc như trên đây, nếu cứ chỗ tra cứu có bằng cớ, thì đọc theo chú dưới phải hơn, còn ai đã tụng quen chú trên thì cũng được. Là vì chú là gốc tiếng Phạn mà phiên dịch qua tiếng Hán rồi lại đọc theo tiếng nước Nam tưởng không thể gì cho khỏi sai tiếng.

Như chư tổ hồi xưa có dặn: hễ người trì chú mà nhứt tâm thì tự nhiên sẽ thấy sự linh ứng, chớ dẫu có đọc sai lầm chút ít cũng không hại gì.

Trong chuyện “Bất tư nghị thần thức” nói rằng: Phép trì chú vãng sanh này, phải rửa mình, súc miệng cho sạch sẽ, ngày đêm sáu thời, thắp hương lễ Phật, rồi quỳ trước bàn thờ, chắp tay mỗi thời đều tụng 21 biến, thì tức là diệt đặng các tội nặng về tứ trọng, ngũ nghịch, thập ác và báng pháp”.

Nếu người nào y pháp mà chí tâm trì tụng chú này, thì Đức Phật A Di Đà thường trụ ở nơi đảnh người ấy luôn cả ngày đêm mà ủng hộ, không có oan gia thừa tiện nhiễu hại, mà trong lúc hiện thế đặng an ổn và đến khi mạng chung thì được vãng sanh, còn như tụng đủ số ba mươi vạn (300.000) biến tức là diện tiếp mà thấy đặng đức Phật A Di Đà.

10-  SỰ LINH ỨNG CỦA CHÚ “THIÊN NỮ THIÊN CHÚ”

Chú này trích trong kinh “Kim Quang Minh”.

Nguyên ba chữ “Thiên thiên nữ” là lầm, vì tra trong kinh thì nói rằng “Thiên nữ thiên” cho nên đính chính lại như vậy.

Trong kinh ấy nói rằng: Nếu chúng sanh nghe chú này mà một lòng thọ trì đọc tụng hương hoa cúng dường, thì nhất thiết những môn thu dụng như là vàng, bạc, châu báu, trâu dê, lúa thóc đều đặng cụ túc hết thảy.

MƯỜI CÔNG ĐỨC ẤN TỐNG KINH

Một là, những tội lỗi đã gây ra từ trước đến nay được tiêu trừ, nếu như đã mang những nghiệp duyên nặng nề thì sẽ được chuyển hóa thành nhẹ nhàng.

Hai là, thường sẽ được các Thiên thần ủng hộ, tránh được các tai ương hoạn nạn, ôn dịch, nước, lửa, trộm cướp, đao binh, tù ngục…

Ba là, vĩnh viễn tránh khỏi những quả báo đau khổ, oán cừu oan trái của nhiều đời và hiện tại.

Bốn là, Long Thiên Hộ Pháp thường gia hộ nên những loài Dạ-xoa, ác quỷ, rắn độc, hùm beo đều lánh xa, không dám nhiễu hại.

Năm là, thân và tâm luôn được an vui, ngày không gặp việc nguy khốn, đêm ngủ không thấy ác mộng, diện mạo hiền sáng, khỏe mạnh, an lành, việc làm thuận lợi, kết quả tốt đẹp.

Sáu là, tâm không mong cầu phước báu giầu sang, nhưng tự nhiên cơm ăn áo mặc được đầy đủ, gia đình trên thuận dưới hòa, con cháu đời đời hưởng lộc.

Bảy là, lời nói cho đến việc làm đều khiến cho mọi người đều sinh tâm vui vẻ, đi đến đâu cũng được mọi người chào đón niềm nở, kính mến và khen ngợi tin tưởng.

Tám là, nếu mắc phải những chứng bệnh mê muội thì sẽ được trở nên thông minh lạnh lợi, thân thể luôn được cường tráng khỏe mạnh, nếu phải ở những nơi thâm sơn biên địa, thì những nơi ấy cũng trở nên thịnh vượng, sung túc. Tâm thức luôn hướng về chánh đạo, sau khi mạng chung sẽ được sinh thiên.

Chín là, khi tái sinh nếu là nam thì sẽ trở thành vương tôn công tử, nếu là nữ sẽ thành thiện mỹ nhân, tướng mạo đoan trang, tâm trí siêu việt, phước lộc tròn đầy.

Mười là, thương tất cả chúng sanh như thân bằng quyến thuộc, vì chúng sanh mà gieo trồng tất cả các căn lành. Nhờ công đức ấy mà thường gặp được các Đức Phật, nghe pháp, siêng năng tu tập, cuối cùng được thành quả Phật.

Ấn Quang Tổ Sư dạy: Ấn tống kinh được vô lượng công đức như vậy, nên vào những dịp chúc thọ, thành hôn, cầu phước, cầu tiêu tai tật bệnh, cầu siêu độ hương linh…hãy tinh tấn phát tâm bồ-đề, ấn tống kinh điển, để gieo trồng cội phước cho chính mình và thân bằng quyến thuộc.

 Image

About these ads

From → Uncategorized

Leave a Comment

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

%d bloggers like this: